9+ Phân Tích Bài Người Lái Đò Sông Đà Chi Tiết Nhất

9+ Phân Tích Bài Người Lái Đò Sông Đà Chi Tiết Nhất

Những phân tích bài Người lái đò sông Đà dưới đây sẽ là nguồn tham khảo hữu dụng cho bạn với chương trình học trên lớp và những đề thi rà soát. Tác phẩm mang tới nhiều góc nhìn về mẫu đẹp của thiên nhiên núi rừng và cả con người Tây Bắc, là nguồn cảm hứng để Toán Học khai thác kỹ hơn phục vụ độc giả.

A. Dàn ý phân tích bài Người lái đò sông Đà

1. Mở bài

– Tác giả Nguyễn Tuân: mang phong cách nghệ thuật độc đáo, mẫu tôi đầy cá tính, một nhà văn tài hoa uyên chưng, luôn khám phá toàn cầu ở phương diện văn hóa thẩm mĩ.

– Tác phẩm được sáng tác trong gian đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, với nội dung ngợi ca vẻ đẹp của con người và thiên nhiên Tây Bắc.

2. Thân bài

2.Một Lời đề từ

– Lời đề từ “Đẹp vậy thay …”: thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng sông và con người gắn bó với dòng sông, thấy được cảm hứng chủ đạo là ngợi ca.

– Lời đề từ tiếp: “Chung thủy …”: thể hiện cá tính độc đáo của của con sông Đà.

2.2. Hình tượng dòng sông Đà

Dòng sông “hung bạo”

– “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới mang mặt trời”, chỗ “vách đá … như một mẫu yết hầu”.

– Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.

– Ở Tà Mường Vát: “mang những mẫu hút nước giống như mẫu giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống mẫu bị sặc nước”,

– Trận địa thác đá được miêu tả từ xa tới sắp:

+ Xa: từ xa âm thanh thác nước hiện lên với nhiều trạng thái: “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “chế nhạo”; “rống lên như một nghìn con trâu … cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).

+ Sắp: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “hất hàm”, “uy phong”, mang những hành động như “phục kích”, “chặn ngang”, “xoá sổ”; sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”

+ Sự biến hóa linh hoạt của 3 trùng vi thạch trận:

– Nhận xét: sông Đà mang dung mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ quân thù số một của con người

Sông Đà trữ tình

– Từ trên cao nhìn xuống như “dây thừng ngoằn ngoèo”, “áng tóc trữ tình”, mùa xuân mang màu xanh ngọc bích, thu lừ lừ chín đỏ.

– Lúc đi rừng lâu ngày gặp lại con sông: sông Đà như một “cố tri”, mang ánh sáng “nhoang nhoáng như trẻ con chiếu gương vào mắt”, như “nắng tháng ba Đường thi”, …

– Lúc đi thả thuyền trên sông: “bờ sông như một bờ tiền sử”, “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, thiên nhiên mơn mởn: lá ngô non, “con hươu thơ ngộ”, …

2.3 Hình tượng người lái đò sông Đà

– Sở hữu thể liên hệ tới hình ảnh Huấn Cao – người anh hùng trong quan niệm của Nguyễn Tuân trước cách mệnh để dẫn dắt sang phân tích hình tượng ông lái đò.

– Về lai lịch: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình: “tay lêu nghêu … chất mun” để ngợi ca những con người vô danh lặng thầm cống hiến.

– Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo.

– Tài năng và tâm hồn:

+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thục trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hưn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước”, …

+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài tình: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo …”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác …”

+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, ko thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc thắng lợi “con thủy quái” là chuyện thường.

– Khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

3. Kết bài

– Tổng kết nghệ thuật đặc sắc: tiếng nói điêu luyện, tưởng tượng độc đáo, vận dụng tri thức nhiều ngành nghệ thuật, xây dựng thành công hình tượng sông Đà và ông lái đò.

– Khái quát nội dung: tác phẩm truyền tụng vẻ đẹp của con người lao động, vẻ đẹp thiên nhiên quốc gia.

Trên đây là phần hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. Để làm tốt hơn bài văn của mình, những bạn mang thể tham khảo thêm nội dung hướng dẫn và tuyển chọn những bài văn mâu phân tích Người lái đò sông Đà đặc sắc nhất.

B. Tuyển chọn bài văn mẫu phân tích Người lái đò sông Đà đặc sắc nhất

Bài phân tích mẫu số Một Người Lái Đò Sông Đà

Với bài kì nổi tiếng “người lái đò sông Đà” – rút từ tập “tùy bút sông Đà” xuất bản năm 1960, Nguyễn Tuân muốn xưng tụng ông lái đò tài hoa trì dựng trên sông thiên nhiên bạo liệt, và tiếng nói Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông tài bậc thầy lèo lái con thuyền chữ trên dòng sông Thi ko kém thác ghềnh. Chính từ áng kỳ này, người nghệ sĩ vốn nổi tiếng tài hoa uyên chưng từ trước cách mệnh tháng 8 nay lại mang dịp trổ ra một phong cách nghệ thuật đầy khía cạnh thú vị trước Một cuộc sống đã thay đổi. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp phổ quát vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và truyền tụng người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông.

Nguyễn Tuân là một nhà văn to của dân tộc, một nghệ sĩ tài hoa suốt đời đi tìm, và tôn vinh mẫu đẹp. Ông mang vị trí quan yếu và đóng góp ko nhỏ đối với văn học hiện đại: xúc tiến thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao, làm phong phú thêm tiếng nói văn học dân tộc, đem tới cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách vượt bậc, tài hoa và độc đáo.

Với chất tài hoa tài tử sẵn mang trong một tâm hồn nghệ sĩ yêu mẫu đẹp, một bộ óc uyên chưng và lối hành văn cầu kì, độc đáo, Nguyễn Tuân gây ấn tượng với người đọc bởi những tác phẩm cực đẹp. Đối với ông, đã đẹp là phải đẹp tới toàn mĩ, đã dữ dội là phải dữ dội tới khác thường, tới tột đỉnh. Và trong một chuyến đi gian khổ và đầy hào hứng tới vùng Tây Bắc rộng to, xa xôi, ông đã tìm thấy cho mình một “nàng thơ” hoàn mĩ: sông Đà với hai “thái cực” tranh chấp tới mê hoặc: hung bạo, dữ dội mà trữ tình, đẹp đẽ.

Sự hung bạo của Đà giang đã được Nguyễn Tuân thể hiện một cách rất tài tình trong tác phẩm. Viết về Đà giang, ngòi bút của Nguyễn Tuân vô cùng phóng túng, thoải mái bởi “Người lái đò sông Đà” được viết bằng thể loại tùy bút. Ông chẳng khác nào một nhà quay phim lão luyện. Sở hữu lúc ống kính của nhà văn tiếp cận con sông Đà từ phía viễn cảnh. Từ trên cao, Nguyễn Tuân nhìn thấy con sông Đà dài ngoằn ngoèo như một sợi dây thừng.

Sở hữu đôi lúc, ống kính của nhà văn lia vào để quay cận cảnh từng quãng sông hẹp, cắt từng đoạn sông để mô tả mẫu sự hung bạo của những đoạn sông với hình ảnh “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ đấy chỉ lúc đúng ngọ mới mang mặt trời.” Thậm chí mang những đoạn “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một mẫu yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách.

Sở hữu quãng con nai con hổ đã mang lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Ấn tượng hơn nữa là việc “ngồi trong khoang đò qua quãng đấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đang ở hè một mẫu ngõ mà ngóng vọng lên một khuông cảnh cửa sổ nhà nào ở tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đèn khí. Và phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân còn được thể hiện qua góc nhìn điện ảnh được sử dụng để cảm nhận, tạo cho người đọc một ấn tượng về vẻ đẹp của sự hùng vĩ mà thiên nhiên Tây Bắc đã mang lại.

Những quãng ghềnh thác hãy còn đáng sợ ở mẫu dữ dằn của gió – nước: quãng mặt ghềnh Hát Loong, dài hàng cây số, gió phối hợp với nước, với đá, với sóng tạo nên những cơn xoáy thật kinh hãi: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió ghùn ghè suốt năm suốt tháng như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”. Loại dữ dội, hung bạo của ghềnh thác được mô tả thành công và sinh động như đang hiện hữu trước mắt người đọc bởi nghệ thuật tài tình của Nguyễn Tuân với hàng loạt những động từ mạnh, câu văn nhiều dấu phẩy liên tục tạo nên sự liệt kê trùng điệp của hành động “sô” và phần nào dựng nên nhịp độ líu tíu, dồn dập vừa như mẫu dữ dội, mạnh bạo của dòng nước mà còn như tiếng tim đập của người đi trên sông.

Tương tự rõ ràng ở nơi đấy lòng sông rất hẹp, độ dốc của con thác rất cao, nhiều luồng chết, vực xoáy. Viết về con sông Đà hung bạo, tác giả sử dụng những câu văn rất ngắn, huy động chủ yếu tri thức võ thuật và quân sự để miêu tả sự vận động của dòng nước. Ông cũng cảm nhận con sông bằng nhiều giác quan để kích thích trí tưởng tượng của độc giả độc giả. Bởi vậy, con sông Đà hiện lên là một nhân vật mang tính cách và cả tiếng nói.

Ta còn thấy Nguyễn Tuân tập trung vào miêu tả sự hung bạo của Đà giang ở những hút nước với cách liên tưởng vô cùng táo tợn. Ở những mẫu hút nước giống như những mẫu giếng bê tông người ta thả xuống để chuẩn bị làm móng cầu: “trên những mẫu hút nước đấy cũng đang quay lư lừ những cánh quạ đàn”. Nước ở đó cứ “thở và kêu như cửa cống mẫu bị sặc”, mang lúc lại nghe rờn rợn như tiếng “rót dầu sôi”. Sông Đà ko khác gì một loài thú dữ đầy ranh mãnh, chực chờ vồ lấy những chiếc thuyền mỏng manh. “Cho nên ko một chiếc thuyền nào dám men sắp mẫu hút nước đấy…

Bè gỗ ngông nghênh qua đây vô ý là bị hút nước đó lôi tuột xuống, mang chiếc thuyền bị nó giồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm dưới lòng sông tới mười phút sau, mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Những so sánh, ví von “như cửa cống bị sặc”, “như mẫu giếng bê tông”… đầy gợi hình, gợi cảm của tác giả gây cảm giác rất mạnh làm cho người đọc như nghe thấy, nhìn thấy cận cảnh mẫu hung tợn của sông Đà mà thót tim lại. Thế nhưng, giống như đang cùng người đọc ngồi cùng một chiếc thuyền qua sông, Nguyễn tuân lại đưa người đọc tới những mẫu rùng rợn hơn nữa của dòng sông Đà.

Trước hết là những âm thanh của tiếng thác gào rùng rợn, hoang dại: con sông Đà đã trở thành một loại thủy quái vừa hung ác, vừa nham hiểm: “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một nghìn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lau, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bừng bừng”. Ở đoạn văn này, tác giả đã huy động rất nhiều giải pháp nghệ thuật như nhân hóa, liên tưởng, so sánh, sử dụng hàng loạt động từ mạnh làm cho hình ảnh sông Đà thật rùng rợn như một nhân vật mang tâm địa hiểm ác với mẫu kiểu khôn khéo, ranh ma.

Tiếp tới là sự hung bạo, dữ dằn của đá sông Đà, đó là những cửa tử đang phục kích ẩn náu để gieo rắc kinh hoàng cho người lái đò. Bằng tri thức sâu rộng về quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao và điện ảnh, Nguyễn Tuân đã phác họa nên một trận chiến đầy gay cấn như một quyển binh pháp về đánh trận trên sông Đà. Đá ở đây được chia thành ba tuyến và năm cửa, bốn cửa tử và duy nhất chỉ một cửa sinh.

Lòng sông thì trắng xóa làm vượt bậc những tảng đá đang bày thế trận, tảng nào, hòn nào “trông cũng ngỗ ngược và như những vị tướng”, “mang vị trông uy phong lẫm liệt”, “mang vị thì như đang hất hàm bắt mẫu thuyền phải xưng tên xưng tuổi trước lúc giao chiến”. Sở hữu vị “lại lùi về một tẹo và thách thức mẫu thuyền mang giỏi thì tiến sắp vào”.

Con thác khúc sông này mới độc áo, xảo quyệt làm sao! Nó như đang phục kích để rồi đột nhiên nhổm cả dậy vồ lấy con thuyền nơi khúc sông ngoặt, lúc thì nó lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền vào rồi bất thần quay lại đánh quật vu hồi. Lúc đánh giáp lá cà tì nó đâm thẳng vào hông ông lái đò, bẻ gãy cán chèo, rồi đá trái thúc gối vào bụng, giở đủ đòn âm, đòn tỉa, rồi túm lấy thắt lưng đòi lật ngửa bụng ông lái đò trên trận nước. Nó vừa đánh vừa reo hò la hét vang động cả một vùng sông nước hoang vu.

Đồng thời, lúc viết về dòng sông, Nguyễn Tuân đã bộc lộ rõ mình là một nhà văn với tình yêu quê hương quốc gia tha thiết bởi trong văn học nghệ thuật, viết về sông núi là viết về giang sơn mà viết về giang sơn là viết về Tổ quốc. Đây là tình yêu nhất quán trong thế cục cầm bút của nhà văn. Trước cách mệnh, tình yêu quê hương Tổ quốc của Nguyễn Tuân được bộc lộ một cách thầm kín thông qua tác phẩm “Thiếu quê hương”.

Ko chỉ giới hạn lại ở đó, ngòi bút của Nguyễn Tuân còn tập trung vào để miêu tả mẫu vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng của dòng sông Đà, nhất là đoạn sông ở phần hạ lưu. Người yêu văn nhận thấy Đà giang hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân thơ mộng, lãng mạn, trữ tình, vô cùng kiều diễm.

Nếu ở đoạn văn trên, Nguyễn Tuân miêu tả con sông Đà hung bạo với những tri thức nền chủ yếu là quân sự hay võ thuật cùng những câu văn ngắn, nhiều động từ, nhiều thanh trắc thì tới đoạn văn này, Nguyễn Tuân chủ yếu sử dụng tri thức du lịch, tri thức lịch sử, tri thức văn học với câu văn vươn dài ra như nhịp chèo thong dong của thuyền tôi trôi trên sông Đà. Nếu quan tâm, người yêu văn hẳn sẽ nhận thấy mang tới mười bốn câu văn Nguyễn Tuân kết thúc toàn với thanh bằng để tạo cảm giác mênh mang mềm mại.

Loại đẹp của sông Đà, mà cũng có nhẽ cũng là nét đẹp trong tâm hồn Nguyễn Tuân, hiện lên mỗi khác qua mỗi góc nhìn khác nhau. Lúc nhà văn bay tạt ngang sông Đà, từ trên cao nhìn xuống con sông, điều trước tiên nhìn thấy lại chính là hình dáng như “mẫu dây thừng ngoằn ngoèo”, sau đó là “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây” rất tinh tế và ngưng đọng lại hình ảnh “sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

Và những lần sau nữa, lúc Nguyễn Tuân “nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà” hoặc lúc xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà”, ông thấy dòng sông hiện lên như một mỹ nhân hiền dịu đầy xuân sắc với bao màu sắc biến đổi diệu kì: “mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Con sông tươi đẹp, sinh động biết bao chứ ko phải là con sông đen như “thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một mẫu tên Tây láo lếu”.

Và con sông Đà lại đẹp một kiểu khác nữa, lúc Nguyễn Tuân dẫn người đọc đi xuyên rừng tới. Ông đã gọi sông Đà tới ba lần tiếng “cố tri”. Nguyễn Tuân ấn tượng với mẫu màu nhoang nhoáng của mặt nước như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Và ông tự dưng phát hiện trong mẫu nhóng nhánh đấy “sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ bãi sông Đà rập rờn bay bao chuồn chuồn bươm bướm.

Nhà văn vui sướng đắm say lúc hội ngộ cùng con sông. Nỗi niềm đấy được ông ví von như niềm vui lúc thấy mẫu “nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “như nối lại mộng mị gián đoạn” – mẫu nắng sưởi ấm tình cảm thân yêu, sắp gũi của tác giả trong cảm giác “đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố tri”.

Một lần nữa lúc thuyền trôi ven bờ, tác giả đã phát hiện được thêm bao nhiêu vẻ đẹp gợi cảm của con sông. Gây ấn tượng trước tiên với người nghệ sĩ là sự tĩnh lặng nhẹ nhõm: “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ tới vậy mà thôi”. Con sông ngày nay ko hẳn chỉ là của hiện tại, nó trôi ngược về quá khứ xa xưa với sự so sánh, liên tưởng đầy bất thần của tác giả: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử.

Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Càng đọc, ta càng mang cảm giác như tác giả đã nhập thân làm một với cỏ cây sông nước, như say sưa mê đắm với ko gian nơi đây để cho hiện dần lên trước ống kính bao vẻ đẹp sinh động: đó là “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, là “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, là “một đàn hươu vùi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Đằng sau những dáng vẻ, những thực thể, màu sắc đấy, người ta còn thấy một sức sống ngồn ngộn, tươi mới, trẻ trung đang ẩn náu, đang ngầm sinh sôi, chuyển động.

Kì ảo hơn nữa là lúc nhà văn như đã nghe được tiếng nói của chú hươu: “thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” cũng như dòng sông “đang lắng tai những giọng nói êm êm của người xuôi”. Và từ hiện tại, ông ước mong tới tương lai nghe một “tiếng còi sương” hoặc “thèm được giật thột vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa trước tiên” hòa nhập cùng dòng sông “lững lờ như thương nhớ”.

Sở hữu thể nói tâm hồn nhà văn như vỗ cánh cùng ước mơ sông Đà đẹp tươi hơn trong ngày mới dựng xây. Càng về cuối bức tranh, sông Đà càng đẹp và sống động với “áng cỏ sương”, rồi “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” và “tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”. Cảnh thiên nhiên cứ mở rộng dần bằng vẻ đẹp vừa hiện thực vừa biến ảo trong mẫu nhìn đắm mình trong thơ mộng của nhà văn.

Ta còn thấy hai nghệ thuật nhân hóa và so sánh được Nguyễn Tuân sử dụng một cách rất nhuần nhụy. Ông cảm nhận con sông Đà và so sánh nó, ví von nó như một áng tóc của người thiếu nữ vô cùng lãng mạn, trữ tình, mĩ lệ: “như một áng tóc trữ tình”… Đây được xem như đoạn thơ đẹp nhất trong tùy bút “Sông Đà”. Đọc xong “Người lái đò sông Đà”, gấp lại trang sách đã lâu nhưng những câu văn đẹp như những vần thơ đấy vẫn giăng mắc, ở trọ mãi trong tâm hồn của mỗi người yêu văn.

Article post on: nongdanmo.com

Nhà văn đã để cho dòng xúc cảm dào dạt thốt lên thành lời hội thoại yên ổn lặng với thiên nhiên, bờ bãi ven sông, nhịn nhường như con người muốn hòa vào cùng cảnh vật, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của dòng sông. Ngòi bút nhà văn tới lúc này mới thật sự vùng vẫy trong sự say sưa khám phá cội nguồn, kể về lịch sử dòng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc, những người đã đón nhận những tặng vật phóng khoáng của sông Đà.

Xúc cảm từ thực tế của Nguyễn Tuân còn khơi nguồn cho những ước mong mang tính dự đoán về tương lai, biến sức mạnh của dòng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rõ ràng, thực tế cuộc sống mới đã tạo điều kiện cho Nguyễn Tuân mang những dự cảm xác thực, mang niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một chế độ mới, đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.

Với sự quan sát tinh tường, trí tưởng tượng phong phú và tư duy liên tưởng so sánh bất thần kết hợp cùng việc sử dụng tài tình tiếng nói Tiếng Việt với những cấu trúc câu trùng điệp, phối hợp linh hoạt và đầy thông minh những giải pháp tu từ, tác giả đã làm vượt bậc lên hình tượng con sông Đà như một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ nhưng cũng đầy thơ mộng của thiên nhiên quốc gia. Hình tượng thiên nhiên này cũng chính là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong giai đoạn mới.

Qua đó, nhà văn cũng bộc lộ được sự tài hoa của mình lúc liên tục thông minh nên những dáng vẻ biến ảo khôn lường làm cho người đọc phải ngạc nhiên, thán phục. Đó là sự tài hoa thiên bẩm cùng với nền tảng là một vốn tri thức uyên chưng về cả nghệ thuật lẫn thế cục, sự dày công quan sát, tìm hiểu đối tượng cần tiếp cận, khám phá cũng như tình cảm man mác sâu nặng, đằm thắm và giàu sức sống, đầy tươi trẻ dành cho Tổ quốc.

Tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên chưng của nhà văn Nguyễn Tuân . Tác phẩm ko chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây bắc mà còn truyền tụng vẻ đẹp bình dị , anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây . Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu quốc gia , niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông Việt Nam.

Bài phân tích mẫu số Hai Người Lái Đò Sông Đà

Người lái đò sông Đà ra đời trong những năm toàn dân ta bước vào công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa đầy sôi động, khẩn trường, lúc đó cảm hứng ngợi ca, tôn vinh cuộc sống mới, con người mới ngập tràn trong những tác phẩm văn học. Ko nằm ngoài xu thế chung đó, Người lái đò sông Đà với hình tượng người lái đò là một trong những hình ảnh vượt bậc. Nguyễn Tuân truyền tụng người lao động bình dị, vô danh nhưng hàng ngày, hàng giờ đang cống hiến, dựng xây quốc gia.

Hình tượng người lái đò sông Đà được đặt trong quan hệ với sông Đà, để qua đó tô đậm, làm vượt bậc hình tượng người lái đò. Bởi vậy sông Đà hung tợn, bạo ngược bao nhiêu thì lúc vượt qua nó, thắng lợi sức mạnh của nó người lái đò càng thể hiện rõ nét hơn sức mạnh của mình.

Người lái đò quê ở Lai Châu, đã từng xuôi ngược dòng sông Đà hơn một trăm lần trong đó mang tới sáu mươi lần giữ lái chính. Tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc về ông lái đò với những con số đầy sức ép và thử thách. Mỗi lần vượt sông Đà là một lần đối diện với mẫu chết, số lần ông vượt sông Đà thành công đã cho thấy sự tài giỏi, điêu luyện trong nghề nghiệp của ông lái đò.

Để làm vượt bậc vẻ đẹp của người lái đò, Nguyễn Tuân đã giới thiệu chân dung của nhân vật: “tay ông lêu nghêu như mẫu sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một mẫu cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một mẫu bến xa nào đó trong sương mù”, “mẫu đầu bạc quắc thước… đặt lên thân hình gọn quánh chất sừng chất mun”. Ở dung mạo của ông lái đò chỉ mang một điểm duy nhất chứng tỏ tuổi ông đã cao đó là mái tóc bạc, lúc tiêu dùng tay che mái tóc này đi, người ta lầm tưởng “mình đang đứng trước một chàng trai đang ngồi ngoài bến chính bờ sông”. Dung mạo, ngoại hình của ông lái đò gây ấn tượng manh với người đọc, bởi nó trái ngược hoàn toàn với mẫu tuổi bảy mươi của ông, đó là dung mạo, ngoại hình của một chàng thanh niên vạm vỡ, dẻo dai, cường tráng. Sức khỏe, thể chất của ông lái đò in đậm dấu ấn nghề nghiệp, do suốt đời vật lộn với sông nước nên cần phải mang một thể lực phi thường để chống chọi lại với những con thác dữ.

Phẩm chất vượt bậc và mang ý nghĩa quyết định tới sự thành công của ông lái trong nghề vượt thác này chính là kinh nghiệm dày dặn. Ko cần bất cứ bản hồ nào nhưng lại mang thể nhớ một cách xác thực luồng lạch trên sông. Để ngợi ca bản lĩnh của ông Nguyễn Tuân đã sử dụng hình ảnh so sánh độc đáo, giàu chất thơ “Sông Đà đối với ông lái đò đấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc tới cả dấu chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Ko chỉ dày dặn kinh nghiệm, ông lái đò còn nâng nghề nghiệp của mình – phương tiện mưa sinh thành một niềm yêu thích mãnh liệt trong đời. Bởi đối mặt với thác dữ, tức là đối mặt với mẫu chết song ông ko hề sợ hãi mà cảm thấy đó là sự thú vị trong nghề nghiệp của mình. Với ông lái đò thì sông Đà chỉ thực sự mặn mòi ở đoạn nhiều ghềnh thác, nếu phải chèo đò ở những đoạn bằng phẳng thì ông thấy chân mình như dại đi và buồn ngủ như người mèo đi bộ ở đồng bằng.

Hình tượng ông lái đò đẹp đẽ nhất là trong cuộc thủy chiến với sông Đà. Nguyễn Tuân đã thông minh ra một một cuộc thủy chiến vô tiền khoáng hậu trong lịch sử văn học, giữa một bên là thủy quái sông Đà với sức mạnh gớm ghê, tâm địa xảo trá và một bên là ông lái đò tuy dẻo dai, cường tráng nhưng đơn độc trong trận chiến gay go, quyết liệt này để mang thể giành được thắng lợi, ông lái đò đã bộc lộ tất cả những phẩm chất tốt đẹp của mình.

Ở trùng vi thạch trận thứ nhất, sông Đà đã phô ra sức mạnh thể chất của nó với sự phối hợp giữa đá, sóng, nước. Chúng vừa đánh trực diện vừa tung đòn đánh tỉa, để dồn ông lái đò vào thế yếu. Dù cảm hứng lãng mạn là cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm song mẫu nhìn và cách miêu tả của Nguyễn Tuân về cuộc thủy chiến ko hề nông cạn tiện dụng, ông ghi lại thời khắc mà tưởng như ông lái đò ngã gục trước những đòn đánh chí mạng của sông Đà. Nhưng bằng sức chịu đựng phi thường, thể chất dẻo dai, cường tráng vẫn phấn đấu kẹp chặt cuống lái, trên thuyền vẫn vang lên sự chỉ đạo ngắn gọn, dứt khoát. Và ưng ý dũng ảm, sức khỏe phi thường, tĩnh tâm ông lái đò đã vượt qua những trùng vi thạch trận thứ nhất. Ở trùng vi thạch trận thứ hai với sự thay đổi bất thần, biến hóa khôn lường trong việc sắp đặt những cửa sinh, cửa tử. Nhưng bằng kinh nghiệm dày dạn, bằng sự linh hoạt ông lái đò đã nhanh chóng đưa thuyền đi vào đúng cửa sinh. Với đoạn quân sóng nước, cách đánh của ông cũng biến hóa linh hoạt, để thích hợp với những trùng vi thạch trận khác nhau. Ở trùng vi thạch trận cuối cùng tác giả miêu tả ko nhiều song vẫn làm bật lên được tài nghệ trong việc lái đò của ông lão. Bằng sức khỏe và sự dẻo dai, sức chịu đựng, đặc trưng là lòng dũng cảm, chủ động, quyết đoạn, ông đã vượt qua tất cả nhưng mẫu bẫy mà sông Đà đã tung ra. Trận chiến ko cân sức giữa một bên là thiên nhiên dữ dội với một bên là ông lão đơn độc chỉ mang mái chèo là vũ khí duy nhất, song thắng lợi đã thuộc về con người.

Nếu như trong trận chiến với sông Đà thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh ở bề nổi của sông Đà thì sau trận chiến cách xử sự với chiến công, thắng lợi của ông lão lại cho thấy những vẻ đẹp ở bề sâu tâm hồn, tư cách. Thắng lợi được sông Đà với bảy mươi ba ghềnh thác là một điều ko phải người nào cũng mang thể làm dược, thậm chí đây là một chiến công phi thường. Song với ông lão và tất cả những người lao động nơi đây tà tà một điều hết sức thông thường. Nhưng chính bởi biết giản dị hóa thông thường hóa những điều phi thường mà tâm hồn, tư cách của những người lao động nơi đây càng trở nên trân trọng, đáng quý.

Hình tượng ông lái đò in đậm dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân. Bởi ông chính là kiểu người tài hoa, nghệ sĩ, biết nâng nghề nghiệp của mình lên mức nghệ thuật. Song ở hình tượng ông lão thể hiện rất rõ sự chuyển biến trong tư tưởng Nguyễn Tuân lúc những con người tài hoa, nghệ sĩ được miêu tả ko phải là những con người phi thường mà là những con người bình dị, thậm chí vô danh. Đây chính là cách Nguyễn Tuân ngợi ca, tôn vinh nững người lao động thầm lặng trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

8. Phân tích hình tượng con sông Đà

Sông Đà mang thể coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân. Thể hiện những nét đặc trưng phong cách của ông.Đặc thù là qua hình tượng con sông Đà Nguyễn Tuân đã cho người đọc thấy một nhà thám hiểm, một nhà văn, một thi sĩ, một nhà tiếng nói đại tài. Ở mỗi trường đoạn khác nhau, vẻ đẹp của sông Đà lại hiện lên với những nét riêng biệt, đầy sống động, đầy sức sống.

Người Lái Đò Sông Đà nói riêng cũng như tập tùy bút Sông Đà nói chung là kết quả chuyến đi thực tế của nhà văn Nguyễn Tuân lên mảnh đất Tây Bắc vào những năm 1958-1960. Đây là thời kỳ miền Bắc sau ngày phóng thích đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo tiếng gọi của Đảng miền Bắc đang dấy lên phong trào tự nguyện tới những vùng xa xôi của Tổ quốc để khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh.

Đoạn trích Người lái đò sông Đà có nhẽ là trích đoạn hay nhất, diễn tả được nhiều nhất vẻ đẹp của sông Đà. Từ đầu tới cuối tác phẩm hình ảnh sông Đà hiện lên với khuôn dung, trạng thái khác nhau, vô cùng phong phú độc đáo. Có nhẽ Nguyễn Tuân đã phải dày công nghiên cứu, tìm tòi và quan sát kĩ lưỡng mới mang thể đem tới mẫu nhìn hoàn chỉnh, đẹp đẽ về sông Đà tới tương tự.

Dòng sông Đà hiện lên trong trang văn Nguyễn Tuân trước hết mang dáng vẻ của sự hung bạo, dữ dội, nó nhịn nhường như chính là quân thù số một của con người. Sông Đà lạnh lẽo, thâm u, mà lúc người ta đứng dưới đó nhịn nhường như ko cảm nhận đường ánh nắng lọt xuống, mẫu lạnh thấu xương nhịn nhường như xâm chiếm vào những người ngồi trên thuyền. Đặc thù hình ảnh so sánh: “vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một mẫu yết hầu” đã diễn tả tận cùng sự chật hẹp của dòng sông, và những nguy hiểm rình rập con người lúc mùa nước lên. Sự độc ác đó tiếp tục được Nguyễn Tuân nhấn mạnh ở những phần tiếp theo như mẫu hút nước chết người, chỉ rình người lái đò tới đó hút vào, rồi cho tan xác ở đoạn sông phía dưới. Những người lái đò ko người nào dám tới sắp: “Ko thuyền nào dám men sắp những mẫu hút nước đấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và vô lăng cho vững mà phóng qua mẫu giếng sâu…”.

Nhưng sự hung bạo của con sông Đà được thể hiện rõ nhất chính là trong trận chiến với người lái đò trên sông, với trùng trùng những trùng vi thạch trận được sắp đặt vô cùng bài bản. Sự hung bạo của chúng được dự đoán ở tiếng thác nước từ phía xa. Chúng lúc oán trách, lúc van xin, lúc lại gầm rống lên làm cho cho bất cứ người nào cũng phải sợ hãi. Và dần dần khuôn mặt của chúng mới lộ diện. Ở trùng vi thạch trận thứ nhất, những khối đá với muôn vàn khuôn mặt khác nhau, méo mó, rúm ró, tàn ác vô cùng ngỗ ngược, dàn đan thế trận. Trong thế trận đó mang tới bốn cửa tử nhưng chỉ mang duy nhất một cửa sinh. Ko chỉ vậy, đá còn phối hợp với sóng, với nước tạo nên những cơn cuồng phong dữ dội nhằm nhấn chìm con thuyền. Ở trùng vi thạch trận thứ hai, cửa tử cứ thế nhiều mãi lên, “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá” và lũ thủy quân xô như trực nuốt trộng con thuyền. Khí thế của chúng vô cùng mạnh mẽ và hung hãn. Ở trùng vi thạch trận cuối cùng Ít cửa ra vào, “bên phải bên trái đều là luồng chết cả”, chỉ mang một luồng sống lại “ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác”. Với sự bày binh bố trận vô cùng linh họa, sông Đà chỉ với mục đích duy nhất đấy là lấy mạng của những người đi thuyền. Đồng thời những câu văn miêu tả này cũng cho thấy nghệ thuật tiêu dùng từ tài tình, sự quan sát tinh tế, nhạy bén của Nguyễn Tuân.

Nhưng đẹp đẽ nhất, lưu lại nhiều ấn tượng trong lòng chúng ta nhất ko phải con sông Đà hung bạo kia, mà chính là dòng sông hiền hòa, thấm đẫm chất trữ tình. Ở một góc nhìn khác, từ trên cao trông xuống sông Đà thật dịu dàng, đằm thắm: con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Đoạn văn quả như một khúc nhạc nhẹ nhõm, êm ái, lại tựa như một bức tranh thủy mặc. Nét vẽ đơn sơ, chấm phá kết hợp với những làn sương khói làm cho cho bức tranh đó càng trở nên mơ hồ, huyền ảo hơn. Nhìn ngắm sông Đà ở những thời khắc khác nhau, ông còn phát hiện, mỗi một mùa sông Đà sẽ mang trong mình những dấu ấn riêng. Và dấu ấn đó được thể hiện qua màu sắc của nước thay đổi theo những mùa trong năm. Mùa xuân nước xanh màu ngọc bích, nhóng nhánh, trong trẻo, nhịn nhường như mang thể soi gương được. Nhưng tới mùa thu, mùa nước lũ, với lượng phù sa đổ về, sông Đà lại mang một dung mạo khác hẳn: “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ mẫu màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Thật nhạy cảm mà cũng rất đỗi tinh tế, bằng sự kết hợp giữa sự tìm tòi, khám phá với tình yêu thiên nhiên sông Đà đã được Nguyễn Tuân cảm nhận một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất.

Ko chỉ cảm nhận sông Đà là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ, mà ông còn coi sông Đà như một con người, đặc trưng là một cố tri: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sống Đà. Chao ôi trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại mộng mị gián đoạn. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố tri”. Bờ bãi sông Đà gợi nhắc ta nhớ tới toàn cầu đường thi cổ kính, lại vừa gợi nhớ tới toàn cầu cổ tích đầy diệu kì. Nỗi nhớ sông Đà ko chỉ đơn thuần là nhớ tới một địa danh, một nơi đã từng đi qua, mà nỗi nhớ đấy như dành cho một người cố tri, người bạn cũ. Bởi vậy mà càng trở nên trầm lặng, sâu sắc hơn.

Sông Đà mang trong mình vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, hoang vu như thời tiền sử. Cảnh đẹp quá nên đã gợi cảm hứng cho thi ca bao đời. Vẻ đẹp đấy đã cùng với sông Đà chảy qua ko gian, thời kì, và đặc trưng là chảy qua cả những áng thơ ca bao đời, thơ Nguyễn Quang quẻ Bích rồi Tản Đà… để trở thành bất tử. Trong mẫu nhìn của thi sĩ Tản Đà, Sông Đà đã trở thành “một người tình nhân chưa quen biết”.

Sông Đà trong những trang văn của Nguyễn Tuân ko đơn thuần là một cảnh trí thiên nhiên tuyệt mĩ, đặc sắc. Mà hơn hết thông qua sông Đà ông thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của mình. Đồng thời cũng cho thấy sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật của ông. Ông tìm thấy mẫu đẹp, mẫu mĩ ở đây, tại cuộc sống, thời khắc này chứ ko phải tìm về quá khứ của một thời vang bóng.

Bài phân tích mẫu số 4 Người Lái Đò Sông Đà

Nguyễn Tuân người nghệ sĩ suốt một đời đi tìm mẫu đẹp và trằn trọc về mẫu đẹp. Nếu như trước cách mệnh ông thoát li thực tế, tìm mẫu đẹp ở thời còn vang bóng, thì sau cách mệnh cốt cách đấy vẫn duy trì nhưng ông tìm thấy mẫu đẹp trong cuộc sống này, ở những con người lao động hết sức bình dị. Người lái đò sông Đà được trích từ tập bút kí Sông Đà là những nét vẽ trung thực về vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc, và vẻ đẹp hào hùng của con người trong lao động.

Tập tùy bút Sông Đà nói chung là kết quả chuyến đi thực tế của nhà văn Nguyễn Tuân lên mảnh đất Tây Bắc vào những năm 1958-1960. Đây là thời kỳ miền Bắc sau ngày phóng thích đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo tiếng gọi của Đảng miền Bắc đang đấy lên phong trào tự nguyện tới những vùng xa xôi của Tổ quốc để khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh.

Như chúng ta biết rằng, mỗi lời đề từ xuất hiện, thường sẽ tập trung tư tưởng của tác phẩm, là chìa khóa mở cánh cửa vào tác phẩm, hé lộ tư tưởng, chủ đề, cảm hứng chủ đạo. Người lái đò sông Đà sử dụng hai lời đề từ: Lời đề từ thứ nhất: “Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”, đây là câu thơ nổi tiếng của thi sĩ cách mệnh Ba Lan mang cấu trúc cảm thán. Câu thơ mang thể là câu hát của những người chèo đò, kéo thuyền vượt thác với tâm hồn lạc quan, yêu thiên nhiên, yêu lao động, cũng mang thể là sự ngơi ca của chính nhà văn trước tư thế làm chủ thiên nhiên của con người trong cuộc sống mới. Câu thơ thứ hai, Nguyễn Tuân mượn câu thơ của Nguyễn Quang quẻ Bích: “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu”. Câu thơ đã hé mở cho người đọc thấy, mọi dòng sông đều chảy về hướng đông, duy mang sông Đà chảy theo hướng Bắc. Câu thơ đã khẳng định sự độc đáo của Đà giang đồng thời hé lộ cá tính nghệ thuật của Nguyễn Tuân – nhà văn của những phong cảnh tuyệt mĩ, cảm giác mãnh liệt.

Trước hết về hình tượng con sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả trên nhiều phương diện, vừa mang vẻ đẹp hung bạo nhưng đồng thời cũng hết sức nên thơ, trữ tình. Vẻ đẹp hung bạo của dòng sông được Nguyễn Tuân thể hiện ở cảnh đá bờ sông dựng vách thành. Lúc đấy “mặt sông chỗ đấy chỉ lúc đúng ngọ mới mang mặt trời” đã gợi ra được độ cao và diễn tả được mẫu lạnh lẽo, âm u của khúc sông. Ko chỉ vậy “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một mẫu yết hầu” đã diễn tả sự nhỏ hẹp của dòng chảy gợi ra lưu tốc rất to nhất là vào mùa nước lũ với bao nhiêu nguy hiểm rình rập. Với trường liên tưởng độc đáo, Nguyễn Tuân tiếp tục khắc họa đậm nét hơn nữa về những vách đá lạnh lẽo, tăm tối, ở khúc sông nhỏ và hẹp: “ngồi trong khoang đò qua quãng đấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một mẫu ngõ mà ngóng vọng lên một khuông cửa sổ nào trên mẫu tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn khí”.

Ko chỉ vậy sự hung bạo còn thể hiện ở “quãng mặt ghềnh Hát Loóng”, ở đoạn này, Nguyễn Tuân đã nhân hóa dòng sông như một sinh thể người, đó là kẻ đi đòi nợ thuê, với gương mặt dữ dằn, tàn bạo. Câu văn với nhịp độ dồn dập, điệp từ, điệp cấu trúc được vận dụng liên tục (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió) kết hợp với những thanh trắc liên tục đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp độ khẩn trương, dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của sóng, gió và đá làm cho cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn, tạo nên một mối đe dọa thực sự đối với bất kì người lái đò nào “quãng này mà khinh suất vô lăng thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.

Source: nongdanmo.com

Sự hung bạo còn được thể hiện ở những mẫu hút nước tàn độc, được giăng mắc trên khắp khúc sông, như trực lấy mạng của con người bất cứ lúc nào. Để tái tạo sự kinh khủng của những mẫu hút nước, Nguyễn Tuân đã lia máy quay ở nhiều chiều kích khác nhau, cho người đọc một mẫu nhìn toàn diện, đầy đủ nhất. Lúc nhìn từ trên xuống mặt nước sông “giống như mẫu giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”; từ dưới lòng sông nhìn ngược lên “thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào…”. Và để giúp người đọc cảm nhận được rõ hơn, tác giả còn đưa ra những vị thế cảm nhận khác nhau, với người quay phim thì như “ngồi vào một mẫu thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy mẫu hút sông Đà…” ; với người xem phim lại thấy “thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một mẫu cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên mẫu gậy đánh phèn…”. Với những trải nghiệm và góc nhìn phong phú Nguyễn Tuân đã cho người đọc cảm nhận đầy đủ mức độ nguy hiểm tột cùng của dòng sông Đà mà ở đây là những mẫu hút nước.

Cuối cùng sự hung bạo của sông Đà được khắc họa ở những trùng vi thạch trận khác nhau. Với trùng vi thách trận thứ nhật là “cả một chân trời đá”, “mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả mẫu mặt nước chỗ này”. Đá còn bày binh bố trận, như cố tình nhấn chìm con thuyền. Trùng vi thạch trận thứ hai tiếp tục tăng thêm thử thách, cửa tử nhiều hơn để gạt gẫm con thuyền và chỉ mang duy nhất một cửa sinh. Cửa sinh đấy lại ko kém phần nguy hiểm lúc “thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào”, phối hợp với đá là dòng thác như hùm beo như chực vồ và nhấn mình con thuyền xuống đáy song. Ở trùng vi thạch trận cuối cùng ít cửa ra vào, “bên phải bên trái đều là luồng chết cả”, chỉ mang một luồng sống lại “ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác”. Tất cả những trùng vi, thạch trận đều vô cùng hiểm ác, với mục đích duy nhất là làm cho con thuyền mất sức, thiệt mạng.

Kế bên vẻ đẹp hung bạo, sông Đà lại hiện lên một vẻ đẹp rất khác, hoàn toàn đối lập, đó chính là vẻ đẹp trữ tình. Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông giống như “mẫu dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình”, đặc trưng là giống như mái tóc của người thiếu nữ “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Dòng sông như một người thiếu nữ, với mái tóc tuôn dài, tuôn dài, tha thướt, uyển chuyển ko ngờ. Vẻ đẹp của dòng sông kết hợp với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng tô điểm thêm cho nhan sắc mĩ miều. Ko chỉ vậy ở những thời khắc khác nhau sông Đà cũng mang vẻ đẹp riêng: Mùa xuân, nước Sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, nhóng nhánh; Mùa thu, nước Sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ mẫu màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Ko chỉ vậy, vẻ đẹp sông Đà con như được bước ra từ miền cổ tích xa xôi, với những bãi bờ hoang dại như thời tiền sử: “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”. Nhà văn đã cảm nhận được mẫu chất “đằm đằm ấm ấm” thân thuộc lúc gặp lại sau một thời kì “ở rừng đi núi đã khá lâu”.

Người lái đò sông Đà ko chỉ vượt bậc ở hình tượng con sông Đà, mà để tô điểm, hoàn thiện vẻ đẹp sông Đà cần mang sự xuất hiện của con người, và thật đẹp đẽ, chân dung người lái đò đã được Nguyễn Tuân thể hiện tài tình, rõ nét. Người lái đò ko mang một tên gọi cụ thể, mà chỉ được gọi tên là người lái đò Lai Châu. Để làm bật vẻ đẹp người lái đò, chân dung ông luôn được tái tạo tương quan với dòng sông Đà. Nghệ thuật tương phản đã làm vượt bậc một trận chiến ko cân sức: một bên là thiên nhiên bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song với sóng nước, với thạch tinh nham hiểm, một bên là con người bé nhỏ trên chiếc thuyền con én đơn độc và vũ khí trong tay chỉ là những chiếc cán chèo. Nhưng dù sông Đà gian ngoan, xảo quyệt bao nhiêu thì người lái đò lại kiên cường bám trụ bấy nhiêu “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Đặc thù trong lần vượt trùng vi thạch trận thứ ba, ông lái đò đã thể hiện rõ tài nghệ của mình. Ông cứ “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa… vút qua cổng đá”, “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua khá nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”… để rồi thắng lợi vinh quang đãng. Câu văn “thế là hết thác” như một tiếng thở phào nhẹ nhõm lúc ông lái đã bỏ lại hết những thác ghềnh ở phía sau lưng. Thắng lợi của ông trước hết xuất phát từ sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống. Đây đông thời cũng là thắng lợi của tài trí con người, của sự thông tỏ tới tường tận tính nết của sông Đà.

Đặc thù, cũng như những nhân vật khác của mình, người lái đò còn được Nguyễn Tuân khắc họa ở vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ. Tài hoa là lúc con người đạt tới trình độ điêu luyện, thuần thục trong công việc của mình, tới độ mang thể thông minh được, mang thể vươn tới tự do. Chính vì vậy, Nguyễn Tuân đã tập trung bút lực truyền tụng hình ảnh ông lái băng băng trên dòng thác sông Đà một cách ung dung, tĩnh tâm, tự tại trong trận chiến đầy cam go nhưng cũng thật hào hùng. Và phong thái nghệ sĩ của ông lái đò thể hiện trong cách ông nhìn nhận về công việc của mình, mặc nhiên tới độ lạ thường. Lúc dòng sông vặn mình hết thác cũng là khoảnh khắc “sóng thác xèo xèo tan trong trí tưởng”. Những nhà đò giới hạn chèo, đốt lửa nướng ống cơm lam, bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, “về những mẫu hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra tràn đầy ruộng”.

Bằng ngòi bút vô cùng tài hoa, tinh tế, Nguyễn Tuân đã tạo nên những trang văn đẹp cả về hình thức và tư tưởng. Tác phẩm được tạo nên từ tình yêu quê hương quốc gia sâu nặng, tha thiết. Ko chỉ ngợi ca vẻ đẹp hùng vĩ của quê hương quốc gia mà còn khẳng định sự to lao, sức mạnh phi thường của những con người thông thường trong hành trình chinh phục thiên nhiên.

Bài phân tích mẫu số 4 Người Lái Đò Sông Đà

Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, là kết quả của chuyến xâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 – 1960 của nhà văn, in trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.

“Tây Bắc ư? Sở hữu riêng gì Tây Bắc.

Lúc lòng ta đã hóa những con tàu

Lúc Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.”

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Trong những tháng ngày cả nước rộn ràng lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc, mang biết bao nhà văn, thi sĩ đã thực hiện quá trình lột xác để tới với cách mệnh. Một trong những nhà nghệ sĩ yêu nước đấy là Nguyễn Tuân – cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam, người đã mang lại những tờ mây thơm thảo cho đời. Nguyễn Tuân tới với Tây Bắc qua tùy bút Người lái đò sông Đà – một tác phẩm thể hiện rõ nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.

Tới với nghệ thuật, đối với Nguyễn Tuân là tới với sự tìm tòi và thông minh, bởi vì “nhà văn là người thông minh lại toàn cầu”. Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay giống với mình của ngày hôm qua, sợ sự trùng lặp tầm thường. Chính vì thế, ông đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, làm mục đích cho thế cục mình. Sống là để đi, để tìm hiểu những điều mới lạ.

Trước cách mệnh, một mình với chiếc vali, Nguyễn Tuân đã bôn ba trên nhiều miền quê quốc gia nhưng với tâm trạng của kẻ “thiếu quê hương”, bất mãn với thế cục. Đó cũng là tâm trạng chung của thời đại. Sau cách mệnh, ông cũng xuôi ngược nhiều nơi nhưng với ý thức của người yêu quê hương xứ sở, muốn góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc.

Chính nhà văn đã từng nói tới Tây Bắc là để “đi tìm mẫu thứ vàng mười của màu sắc song núi Tây Bắc, và nhất là mẫu thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và vững bền”. Với tình yêu quê hương sâu nặng và bầu nhiệt huyết sôi nổi đấy, Nguyễn Tuân đã sử dụng uyển chuyển, tinh vi vốn tiếng nói phong phú của mình để viết nên những tờ mây thơm thảo về con người và thiên nhiên của miền sông núi này…

Tác giả hay đi tìm cảm giác mạnh cho những giác quan. Vì vậy, những trang văn của ông thường mang theo âm điệu của những trận cuồng phong, bão tố. Nhưng ko vì vậy mà chúng mất đi nét dịu hiền, thơ mộng. Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ tình. Nó mang tâm địa xảo quyệt của thứ quân thù số một, mang thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…”Nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ…đá ở đây từ nghìn năm vẫn phục kích hết trong lòng sông” và lúc thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng “nhổm cả dậy để vồ lấy”…

Nhưng mẫu hung hãn dữ tợn đấy vẫn ko làm mất đi được nét trữ tình ở sông Đà. Miêu tả con sông ở những đoạn xuôi dòng, ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, uyển chuyển, mang đậm chất thơ. “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”…

Trên con sông đấy, ông lái đò xuất hiện, dữ dội và phi thường. Trong trận chiến đấu “một mất, một còn” với thác nước, tác giả cho ta thấy được mẫu tài hoa, trí dũng tuyệt vời của ông lái. Người lái đò sông Đà là hiện thân của tác giả, chỉ thích lao vào những trận chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà ko ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm đềm…

Giọng văn Nguyễn Tuân thật tự nhiên và phóng túng lúc miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật. Sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, vừa là “quân thù , vừa là “cố tri”. Dưới ngòi bút tác giả, con sông ko chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, sôi nổi bằng những từ ngữ gợi hình ảnh, tác động mạnh vào giác quan người đọc.

Ông lái đò cũng thế cũng xuất hiện một cách sinh động, rõ nét và sắc sảo… Đối với Nguyễn Tuân, “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Văn phải đẹp, phải trau chuốt. Loại đẹp đấy đã chi phối cách nhìn của tác giả trên toàn bộ tác phẩm. Con người và sự vật, qua ngòi bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ.

Nét đẹp sông Đà là một dự án dày công thông minh của tạo hóa. Nó vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp tới màu sắc. Loại áng tóc trữ tình của người thiếu nữ đấy là nguồn cảm hứng cho biết bao thi sĩ, nhà văn. Nước sông Đà cũng thế. “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”.

Con sông đấy đối với tác giả ko chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó thật gợi cảm. Nó gây nên nỗi nhớ da diết cho những người nào đã từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Gặp lại sông Đà, tác giả cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố tri. “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại mộng mị gián đoạn”.

Và trong mẫu đẹp đẽ, thơ mộng của đất trời thiên nhiên, con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục. Ông bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải qui hàng. “Nắm chặt lấy được mẫu bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá đấy”. Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon.

“Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển to trong phong cách Nguyễn Tuân. Trước cách mệnh, nhà văn thường đi tìm đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ, với một thời vang bóng đã qua. Nhân vật của Nguyễn Tuân là những Huấn Cao, quản ngục mang tâm trạng của kẻ “nào biết trên đầu mang người nào”. Nhân vật “vang bóng một thời” là những vị anh hùng ngang dọc, “khinh bạc tới điều”. Nhưng sau cách mệnh, Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, sắp gũi.

Huấn Cao giờ đây đã lùi vào kí vãng chỉ còn đây một ông lái đò cả đời gắn bó với công việc, với cuộc sống. Hình ảnh ông lái lênh đênh trên sóng nước, chống chọi với tử thần bằng cây sào bé nhỏ gây xiết bao xúc động trong lòng người đọc. Nguyễn Tuân đã trao tặng ông chiếc huy chương anh hùng lao động trên ngực như một niềm hãnh diện thiêng liêng. Ông lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa trí dũng song toàn. Miêu tả hình ảnh người đời thường lái đò, Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc.

Trong việc tái tạo lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động. “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền, sóng dậy lên thành thác núi, “một anh bạn quay phim táo tợn…đã dũng cảm ngồi vào một mẫu thuyền thúng trùng triềng” rồi lao xuống “đáy hút sông Đà” để quay phim…

Tất cả những gì nhà văn viết ra, những gì nhà văn tưởng tượng và thông minh nên đều như được dựng lại trước người đọc. Xúc tiếp với tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, ta như đang đứng trước con sông đấy, chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm đềm, trữ tình.

Via @: nongdanmo.com

Trong đoạn văn, Nguyễn Tuân tiêu dùng cả những tri thức về quân sự, võ học… Trận chiến đấu giữa người lái với thạch trận sông Đà diễn ra thật quyến rũ, li kì: “Mặt nước hò la”, sóng nước “đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Nó “bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”… Tất cả những từ ngữ và hình ảnh mang đậm nét “quân sự, võ thuật” đấy như gợi lại trước mắt ta quan cảnh một cuộc hỗn chiến nguy hiểm, đầy hồi hộp quyến rũ.

Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên chưng. Nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh vật học… thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm. Với Người lái đò sông Đà, tác giả đã đưa ta tới với một miền quê hương Tổ quốc. Vị trí sông Đà, lịch sử sông Đà đã được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính “uyên chưng”. Nhiều địa danh được tác giả nhắc tới trong tác phẩm như Tà Mường Vát, Sơn La, Hát Loóng… Tất cả, tất cả chứng tỏ sự hiểu biết rất rộng và rất sâu của tác giả lúc viết về sông Đà…

Khả năng diễn đạt và vốn tiếng nói của Nguyễn Tuân thật phong phú. Mỗi từ ngữ lúc đưa vào câu văn nhịn nhường như đã được gạn lọc, gọt giũa chu đáo. Ông đã thông minh nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn thỉnh thoảng mang vẻ thô kệch, dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Nguyễn Tuân ko những viết nên những trang văn đầy tài hoa và lịch lãm mà ông còn thông minh nên những trang thơ cho đời. Đọc những dòng viết về con sông Đà trữ tình, ta ko khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước giọng văn êm ái, dịu dàng như thơ của Nguyễn Tuân.

Viết về người lái đò sông Đà, viết về một vùng quê hương Tổ quốc, Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thiên nhiên quốc gia. Sông Đà càng đẹp, càng sinh động, ông lái càng quả cảm, ngoan cường trong công việc ta càng thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn – Người lao động trong tác phẩm .

Nguyễn Tuân thật bình dị từ công việc tới hình dáng, cách ăn nói. Nhưng ông ta lại là người anh hùng trước mắt Nguyễn Tuân. Nhà văn đã phát hiện ra trong con người bình dị đấy chất nghệ sĩ tài hoa, dám đương đầu với sóng to gió to để chèo lái con thuyền qua sông. Ông lái hiện lên trong tác phẩm là người lao động tích cực, quên mình vì công việc.

Cuộc sống quanh ta vốn dĩ rất tầm thường, cũ kĩ. Ngày lại qua ngày, mây vẫn bay và gió vẫn thổi…nhưng chính nhà văn là người mang lại cho ta một toàn cầu mới, tinh khôi, kì diệu. Nguyễn Tuân cũng là một nhà văn, một người góp phần thông minh lại toàn cầu. Văn học của Nguyễn Tuân đã mang tới cho chúng ta một chân trời kì bí riêng biệt, quyến rũ và độc đáo. Đó là chân trời của mẫu đẹp, của sự tài hoa và uyên chưng…

Bài phân tích mẫu số 5 Người Lái Đò Sông Đà

Nguyễn Tuân được biết tới là một cây bút tài hoa, uyên chưng, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Ông mang sở trường về thể loại tuỳ bút. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tùy bút “Người lái đò sông Đà”. Tác phẩm nhịn nhường như đã khắc họa vẻ đẹp phổ quát vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và truyền tụng người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông.

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” đã được in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960), và gồm mang 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đó chính là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn tới Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc trưng là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đã đi tới với nhiều vùng đất khác nhau, sống với lính, người lao động và đồng bào những dân tộc. Thực tiễn công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem tới cho nhà văn nguồn cảm hứng thông minh vô tận.

Sở hữu thể nói ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vĩ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”

Qua tác phẩm đặc sắc “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với một tấm lòng tự hào của mình đã khắc họa những nét thơ mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên quốc gia qua hình ảnh con sông Đà hung bạo nhưng mang lúc lại hết sức trữ tình. Đồng thời, nhà văn nhịn nhường như cũng phát hiện và truyền tụng chất nghệ sĩ, sự tài tình trí dũng của con người lao động mới đó chính là chất vàng mười đã qua thử lửa của quốc gia trong xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua hình ảnh người lái đò sông Đà. Từ đó mà nhà văn đã truyền tụng con sông Đà vừa hung tợn nhưng cũng mang lúc trữ tình, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc chuyên cần, dũng cảm, rất tài tử và cũng rất tài hoa.

Người lái đò nhịn nhường như đã hiện lên trước hết là một người lao động từng trải, mang nhiều kinh nghiệm đò giang. Hơn nữa lại mang lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân thật tài tình lúc đã đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất đấy được bộc lộ. Và nếu ko phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Có nhẽ nhà văn gọi đây là trận chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó còn chính là một cuộc vượt thác đầy nguy hiểm tới tính mệnh, diễn ra nhiều hồi, và cũng rất nhiều đợt như một trận đánh mà ở đó nhịn nhường như đối phương đã hiện ra dung mạo và tâm địa của quân thù số một.

Nhường nhịn như “Đá ở đây nghìn năm vẫn phục kích hết trong dòng sông, hình như mỗi lần mang chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này” mang thể thấy rằng mỗi lần mang chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là ngay ngay thức thì mang một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Sở hữu thể nói Nguyễn Tuân như đã tiêu dùng rất đắt cho việc sử dụng tiếng nói của mình bằng cách tả những hòn đá. Ông tả mặt của hòn đá nào nhịn nhường như cũng trông ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả mẫu mặt nước chỗ này…”. Con sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Và lúc đi tới đây mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết mẫu thuyền. Và việc một mẫu thuyền đơn độc ko còn biết lùi đi đâu để tránh khỏi ra được một cuộc giáp lá cà mang đá dàn trận địa sẵn phía trước.

Nhường nhịn như trong thạch trận đấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Lúc con sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất vô nhị đó chính là tiêu dùng nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn ko hề nao núng, mà nhịn nhường như vẫn giữ được sự tĩnh tâm, đầy mưu trí. Lúc này đây người lái đò bỗng như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Và ngay cả lúc người lái đò bị thương, thì ông vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như mẫu luồng sóng đánh hồi lùng, rồi cả đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm nữa. Nhưng lúc mà người lái đò “Phá xong mẫu trùng vi thạch trận thứ nhất”, ko quản nhọc mệt thì ngay ngay thức thì người lái đò đã lại “phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lão lái đò nhịn nhường như cũng đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Và cho tới vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng nhịn nhường như lúc này người lái đã chủ động “tiến công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền đã vun vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút cửa ngoài rồi lại cả cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua khá nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Và nhịn nhường như trong trận chiến ko cân sức đấy, người lái đò chỉ mang một cán chèo, một con thuyền ko mang đường lùi còn dòng sông nhịn nhường như mang sức mạnh siêu tự nhiên thật hung tợn của loài thuỷ quái. Tuy nhiên, mang thể nói rằng chính những mẫu kết cuộc cuối thì với người lái đò vẫn thắng lợi, làm cho cho bọn đá tướng tiu nghỉu khuân mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé.

Người lái đò hiển hiện trong tác phẩm chính là một người lao động vô danh, làm lụng lặng thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên to lao, kì vĩ và người lái đò trở thành đại diện của CON NGƯỜI. Người lao động chân chính đã thắng lợi thiên nhiên là nhờ ý chí kiên cường, dai sức, quyết tâm mà thắng lợi sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc.

Sở hữu thể nhận thấy vượt bậc nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Nhường nhịn như khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân mang nghĩa rộng, ko cứ là những người làm thơ, viết văn mặc cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ nhịn nhường như đã đạt tới trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong Người lái đò sông Đà, tác giả Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là vô lăng ra hoa. Nghệ thuật được sử dụng đặc sắc ở đây là phải thông tỏ và nắm chắc những quy luật thế tất của sông Đà và vì làm chủ được nó nên mang tự do.

Quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Nếu như chỉ cần mang một tẹo thiếu tĩnh tâm, thiếu xác thực, hay lỡ tay, quá trớn đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông Đà ko mang thác lại dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ ngay. Chung quy lại, thì ở bất cứ nơi nào cũng nguy hiểm. Ông lão lái đò nhịn nhường như vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Có nhẽ chính vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, tĩnh tâm như vị chỉ huy cầm quân tài tình. Nhường nhịn như mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, xác thực. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thoả như chưa từng vượt thác: sóng thác xèo xèo tan ra trong trí tưởng. Sông nước lại thanh bình. Và trong đêm đấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những mẫu hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng như chả thấy người nào bàn thêm một lời nào về trận chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi cả. Như những nghệ sĩ chân chính, thì sau lúc đã vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm để đời thì ko mấy người nào tự tán tụng về công sức của mình, và chính nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét rằng “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chống chọi với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những mẫu thác, nên nó cũng ko mang gì là hồi hộp, đáng nhớ”. Chính vì vậy mà họ nghĩ thế lúc ngừng chèo. Thấp người lái đò anh hùng có nhẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa thì chỉ mang Nguyễn Tuân mà thôi.

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” còn chính là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên chưng của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác phẩm đặc sắc này ko chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc mà nhịn nhường như còn truyền tụng vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây. Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân đã mang thể bộc lộ tình yêu quốc gia, niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông Việt.

Bài phân tích mẫu số 6 Người Lái Đò Sông Đà

Nguyễn Tuân là một nhà tuỳ bút to. Sự nghiệp sáng tác của ông phong phú và đạt được sự thăng bằng giữa hai thời kỳ lịch sử trước và sau Cách mệnh tháng Tám 1945. Qua mẫu mốc đấy, tư tưởng và phong cách của ông tất nhiên mang những biến đổi nhất định. Nhưng dù biến đổi thế nào, vẫn trên một cơ bản thống nhất của một mẫu tôi rất Nguyễn Tuân: tài hoa, uyên chưng, thích cảm giác mạnh, suốt đời say mê đi tìm và diễn tả mẫu đẹp. Người lái đò Sông Đà rút trong tập tùy bút Sông Đà – một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân sau Cách mệnh tháng Tám.

Sau Cách mệnh tháng Tám 1945, tuỳ bút Nguyễn Tuân ngày càng giàu thêm chất khí. Tức là tư liệu rất phong phú, ngổn ngang, nhất là tư liệu về địa lí, lịch sử, dân tộc học. Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, những tư liệu đấy trở thành hình tượng sống động, thành những sinh thể, những nhân vật mang vong hồn. Vì vậy bài tuỳ bút ko chỉ mang một nhân vật mà hai nhân vật: người lái đò và con sông Đà.

Nguyễn Tuân đã thông minh ra một con sông Đà ko phải là thiên nhiên vô tri, vô giác, mà là một sinh thể mang hoạt động, mang tính cách, cá tính, mang tâm trạng hẳn hoi và khá phức tạp. Nó mang hai nét tính cách cơ bản đối lập với nhau – như tác giả nói – “hung bạo và trữ tình”. Lúc trở mặt hung bạo, nó cứ như là “quân thù số một” của con người. Nhưng lúc trữ tình thì lại đầy chất thơ, rất đỗi dịu dàng, thân thiết, giống như một người tình, một “cố tri” gặp thì mừng vui, xa thì nhớ nhung, lưu luyến.

Hai nét tính cách này đã khơi đúng vào cảm hứng nghệ thuật của Nguyễn Tuân – một cây bút vốn xoành xoạch khát khao những cảm giác, xúc cảm mới lạ, nồng nàn, say đắm. Ko phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã viết rất hay về đèo cao, dốc thẳm, về gió, về bão, về thác nước dữ dội, nếu ko phải là về vẻ đẹp tuyệt vời của cảnh, của người, của viên ngọc trai đáy biển, của bầu trời trong trên đỉnh núi Mèo, về hoa thuỷ tiên nở đúng đêm giao thừa, về sắc đẹp đổ quán xiêu đình, nghiêng thành nghiêng nước của nàng Kiều,… Về tính cách hung bạo của con sông Đà thì từ xa xưa ông cha ta đã diễn tả bằng biểu tượng Sơn Tinh – Thuỷ Tinh: “Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm trả thù đời đời kiếp kiếp đánh ghen”.

Nguyễn Tuân thì ko thể tiêu dùng lối huyền thoại như thế, ông phải dựng lên những bức tranh trung thực về những cảnh tượng hùng vĩ và dữ dội của con sông Đà làm cho người đọc cũng phải rùng mình sởn gáy như đứng trước cảnh thực. Ông đã tung ra biết bao chữ nghĩa đắt giá, biết bao thủ pháp mang sức diễn tả mãnh liệt để quyết một phen thi tài với Tạo hoá.

Sức tưởng tượng của Nguyễn Tuân tới thế thật là đã được đẩy lên tới mức kì khu, kì quái do mẫu động lực ngang bướng: ko chịu lùi bước trước Tạo hoá.

Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà thực sự trở thành một loài thuỷ quái khổng lồ. Tiếng gầm gào của nó qua những con thác dữ, từ xa nghe đã dễ sợ: “tiếng nước réo sắp mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Lúc tới sắp, tiếng nó bỗng “rống lên như tiếng một nghìn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”.

Con thuỷ quái ko chỉ hung hãn. Nó còn hết sức xảo quyệt. Trong cuộc vật lộn với ông lái đò, nó đã trổ ra đủ mưu ma chước quỷ để lừa người ta vào thế trận đã bày sẵn và hướng người ta vào cửa tử. Chỗ ngoặt sông thì đánh phục kích. Dụ được vào sâu thì đánh khuýp vu hồi. Giáp lá cà thì giở đủ ngón hiểm ác: đòn âm, đòn dương, đá trái, thúc gối, túm thắt lưng, lật nửa người, bóp chặt hạ bộ,… Vừa đánh vừa hò la vang trời dậy đất để áp đảo ý thức đối phương,…

Nhưng vượt qua được con thác dữ thì sông nước lại trở nên rất đỗi êm đềm thanh bình. Nguyễn Tuân gọi thế là tính cách trữ tình của con sông Đà. Sông Đà lúc này lại như một tiên nữ giáng trần. Nó “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”. Đẹp biết bao lúc được ngắm nhìn những làn mây mùa xuân bay trên sông Đà. Nước sông Đà cũng thay đổi theo mùa: mùa xuân là dòng xanh ngọc bích, mùa thu thì lừ lừ chín đỏ như da mặt người say rượu… Cảm hứng dạt dào, nhà tuỳ bút cũng muốn trở thành thi sĩ. Ông thấy “lai láng thêm mẫu lòng muốn đề thơ vào sông nước”. Từ những chạm khắc gân guốc, bạo khỏe, từ những màu sắc gây ấn tượng dữ dằn, Nguyễn Tuân chuyển sang những đường nét thanh thoát, dịu dàng thơ mộng. Quả thực nhiều lúc ông đã đạt tới khả năng gợi tả của tiếng nói thơ, tức là nói được những điều khó nói bằng văn xuôi: đấy là mẫu mà ông gọi là “màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” – thoáng hiện lên trên sóng nước sông Đà; đấy là mẫu bâng khuâng ngơ ngẩn của dòng nước lững lờ trôi xuôi như thương nhớ những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Sở hữu một mẫu gì tựa như nỗi thương nhớ mênh mang mơ hồ của thi sĩ Tản Đà gửi “một người tình nhân chưa quen biết” – “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”.

Nói chung qua cảm nhận của Nguyễn Tuân, chất thơ của phong cảnh sông Đà thường mặn mòi màu sắc cổ điển: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ tới vậy mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh ko một bóng người, cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật thột vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa trước tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi ko chớp mắt mà như hỏi tôi bằng mẫu tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, mang phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương ?”. Sở hữu thể gọi đấy là những dòng thơ văn xuôi của nhà tuỳ bút.

Trên mẫu nền của con sông vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” đấy hiện lên sừng sững hình tượng người lái đò sông Đà. Thực ra ông lái này chủ yếu xuất hiện trong cuộc vật lộn với một con thác dữ, tức là ở mẫu phía hung bạo của sông Đà. Giả sử tác giả đặt ông ta trong khuông cảnh khác – khuông cảnh thơ mộng trữ tình – chắc hẳn ông sẽ trở thành một anh chàng Trương Chi si tình trong cổ tích. Nhưng ở đây, đối đầu với con sông dữ, với một loài thuỷ quái, ông lái đò nhất thiết phải trở thành một dũng sĩ kiên cường – một nhân vật sử thi trong thiên trường ca leo ghềnh vượt thác..

Bài phân tích mẫu số 7 Người Lái Đò Sông Đà

“Người lái đò sông Đà” là thiên tùy bút rút trong tập “Sông Đà” (1960) của Nguyễn Tuân. Đây là thành tựu nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi thực tế tới Tây Bắc năm 1958. Trong chuyến đi này, tác giả đã mang thời cơ sống với những khoảnh khắc thân thuộc nhất, hào hứng nhất của người nghệ sĩ trong ông. Ông cảm nhận được “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của những người lao động bình dị trên miền sông nước hùng vĩ và thơ mộng. Thật đúng lúc cho rằng “thiên tùy bút là bài ca về vẻ đẹp của người lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, mà tiêu biểu, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, là hình tượng người lái đò vừa là người anh hùng, vừa là người nghệ sĩ tài tình trong nghề của mình.

Trong những tác phẩm của mình dù viết trước hay sau cách mệnh tháng Tám thì những nhân vật chính luôn được ông xây dựng thành những con người đặc trưng, tài hoa nghệ sỹ. Hình ảnh ông lái đò cũng ko phải là một ngoại lệ. Lúc đọc tác phẩm, ta sẽ ấn tượng ngay trước tiên với ngoại hình của ông: “Tay ông lêu nghêu như mẫu sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh lại như kẹp lấy một mẫu cuống lái tưởng tượng. Giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một mẫu bến xa nào đó trong sương mù…”. Sức vóc ông khỏe mạnh chẳng khác gì thanh niên trai tráng mười tám đôi mươi: “Sắp bảy mươi tuổi, mẫu đầu quắc thước của ông đặt trên một thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mùn… ông giơ tay lên, đôi cánh tay trẻ tráng quá bịt mẫu đầu bạc hói đi. Ko người nào ko lầm tưởng mình đang đứng trước một chàng trai đang ngồi ngoài bến chính bờ sông” Những dòng này được nhà văn viết ra ko chỉ để giới thiệu ngoại hình của một con người mà còn để truyền tụng sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính con người đó. Chỉ mang yêu quý nghề, gắn bó sâu đậm với nghề, nhiều năm một nắng hai sương dong duổi chở khách trên con sông Đà hùng vĩ thì ngoại hình mới mang đậm dấu ấn nghề nghiệp tương tự. Đây chính là phong cách viết độc đáo của Nguyễn Tuân, ông luôn nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói, “Hàm lượng thông tin” ở đó ko bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn, chỉ lúc chuyên chú đọc ta mới khám phá ra được nhiều tầng ẩn ngôn hàm chứa trong từng câu văn của tác giả.

Nhưng chỉ những nét miêu tả ngoại hình thôi thì chưa đủ. Trong ông lái đò còn ẩn chứa rất nhiều điều tuyệt vời đặc trưng của một người từng trải thạo nghề. Ông là một vong hồn muôn thuở của sông nước này. “Trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái đò sáu mươi lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sau chèo”. Sự từng trải đấy còn được thể hiện qua trí tưởng siêu phàm của ông. Trí tưởng đấy được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ 73 con thác, như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò như một bản trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng tới cả những mẫu dấu chấm than chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Lúc được tác giả hỏi chuyện, người lái đò đã bảy mươi tuổi, làm nghề đó dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chục năm nhưng trong ông, bản lĩnh kiên cường nhịn nhường như ko hề suy chuyển. Ông vẫn rất tự tín mà rằng: “Tôi bỏ nghề đã lâu rồi nhưng nay cho lên thác xuống ghềnh tôi dám thi đua với bạn đò ở khắp mấy châu mang địa giới loang ra bờ sông Đà, cũng còn mẫu linh lợi để trở mừng một phái đoàn trung ương vừa lên vừa xuống thăm dò khảo sát toàn bộ sông Đà cho tới biên giới Trung Quốc”.

Nhưng trên hết tất cả, hình tượng ông lão lái đò được khắc họa rõ nét nhất qua trận thủy chiến với sông Đà. Vẻ đẹp sức mạnh của ông lái đò được khắc họa trong tương quan với vẻ đẹp của con sông Đà hung bạo, hùng vĩ. Chỉ từng trải thôi thì chưa đủ, đối với con sông Đà, người nào chế ngự được nó đòi hỏi phải mang lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đã đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất đấy được bộc lộ, nếu ko phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Đây chính là dụng ý của tác giả lúc viết về hình tượng ông lái đò, phẩm chất dũng cảm, gan dạ, kiên cường chỉ được bộc lộ rõ nhất lúc nhận vật đối mặt với khó khăn, nguy hiểm. Giả sử đặt ông lái đò trong khuông cảnh thi vị, trữ tình của sông Đà thì hình tượng lại phát triển theo một hướng khác, trở thành một nghệ sĩ đa tình lẫn vào toàn cầu nhân vật của Nguyễn Tuân trước Cách mệnh. Còn ở đây, ông lái đò trở thành người anh hùng nghệ sĩ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt thác. Đó chính là cuộc vượt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra ngay dung mạo và tâm địa độc ác của quân thù số một, lực lượng đá hậu, đá tượng, đá tiền vệ với nhiều thủ đoạn nham hiểm tạo thành một lực lượng hùng hậu, đông đảo, dữ dằn và nham hiểm.

Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn chúng giăng sẵn trận đồ bát quái với ba trùng vi. Trùng vì một mang 4 cửa tử và Một cửa sinh. Sóng trận địa phóng thẳng, mặt nước hò la vang dậy mà vào bẻ gãy cán chèo vũ khí của ông lái đò nhưng ông vẫn hai tay giữ chắc mái chèo khỏi bị hất lên. Vì thế sóng nước lại càng dọa dẫm, sấn sổ, máu chiến như thể quân liều mình. Nước bám lấy thuyền như trang bị túm lấy thắt lưng ông lái đò lật ngửa mình giữa trận nước. Lúc sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất vô nhị nốc ao đối phương, ông lái đò cũng chẳng run tay, cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt móc bệch. Ông chỉ huy hết sức ngắn gọn và tỉnh táo, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua trùng vi một hiểm trở. Phá xong trùng vi thạch trận thứ nhất ông lái đò phá luôn vòng vây thứ hai. Trùng vi hai tăng thêm nhiều cửa tử để gạt gẫm con thuyền vào, cửa sinh lại được sắp đặt lệch qua bờ hữu ngạn thật nham hiểm và xảo quyệt, thiên nhiên hùng mạnh như thú dữ.

Bốn, năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định nhử thuyền vào tập đoàn cửa tử. Nhưng ông lái đò đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá, ko một tẹo nghỉ tay nghỉ mắt, ông lái đò nắm chặt lấy mẫu bờm sóng đúng luồng, ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh lái miết một đường chéo về phía cửa đá. Thật điêu luyện. Tới vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, luồng sông nằm ở ngay giữa bọn đá hậu vệ. Một ông lái đò và sáu tay trèo, tưởng nghe đâu con người hết sức nhỏ bé, ít ỏi, cạn kiệt sức lực giữa một thiên nhiên hung tợn. Nhưng ko, như một vị tướng lão luyện dày dặn kinh nghiệm, trận mạc, ông lão phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa. Thuyền vụt qua cổng đá, cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh cho qua khá nước, vừa xuyên, vừa tự động lái được. Thế là kết thúc.

Tác giả đã rất dày công lúc miêu tả trận thủy chiến với con sông Đà của ông lão lái đò. Một loại những hành động nhanh mạnh: Phóng nhanh, phóng thẳng, lái miết một đường, chọc thủng, xuyên nhanh,… Kết hợp với nhịp văn gấp gáp, khá văn căng thẳng, câu văn dồn dập gợi nên một cuộc giao tranh giáp lá cà một sống, một chết. Hơn nữa thư pháp nghệ thuật tương phản được sử dụng triệt để và rất độc đáo trong tác phẩm đã xây dựng lên hai phe đối lập: một bên là thiên nhiên hung tàn, bạo liệt với một bên là con người nhỏ bé nhưng đầy bản lĩnh, sự quả cảm và khả năng chinh phục thiên nhiên kỳ diệu. Ông lái đò trong tay chỉ mang một mái chèo “Như mẫu que giữa ngút ngàn sóng thác” như một vị tướng bách chiến bách thắng, phá thành vượt ải.

Với ngòi bút tài hoa và sự uyên chưng, thông tỏ về mọi ngành như thể thao, võ thuật, quân sự… của mình, Nguyễn Tuân đã biến câu chuyện thông thường thành bản trường ca hào hùng, biến ông lái đò thông thường thành một anh hùng, một nghệ sỹ lái đò trong nghệ thuật leo ghềnh vượt thác. Ông vừa là dũng sĩ, vừa là nghệ sĩ – vô lăng ra hoa, ông tiêu biểu cho hình ảnh con người lao động trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Ko chỉ là cô Đào trong truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, tự nguyện lên Điện Biên xây dựng nông thôn mới, ko chỉ là tầng lớp thanh niên “Tuổi hai mươi lúc hướng đời đã thấy/ Là xa xôi biết mấy cũng lên đường”, mà cùng với họ, ông lái đò sông Đà đã góp phần làm vượt bậc, tôn lên vẻ đẹp, phẩm chất của người lao động trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm 55 – 60.

Bài phân tích mẫu số 8 Người Lái Đò Sông Đà

Nguyễn Tuân sinh năm 1910, mất năm 1987 là một nhà nghệ sĩ to của dân tộc Việt Nam. Vốn là một người tri thức giàu lòng yêu nước lại thông tỏ sâu rộng nền văn hoá dân tộc, ông viết nên những tác phẩm rất mực uyên chưng và giàu trị giá. Nếu như trước cách mệnh, văn học của Nguyễn Tuân chạm tới lòng người bởi vẻ đẹp tài hoa của những con người “một thời vang bóng” như Huấn Cao thì sau cách mệnh, Nguyễn Tuân làm cho người đọc rung cảm bởi sự tinh tế và tài năng trong việc vẽ nên những nét đẹp gân guốc nhưng sắp gũi, bình dị với thiên nhiên và đời sống con người. Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một thành công tiêu biểu cho phong cách văn học đấy.

Trong tùy bút, Sông Đà hiện lên vừa hùng vĩ, kiêu sa, dữ dội lại vừa xinh đẹp, dịu dàng, thơ mộng. Nguyễn Tuân đã miêu tả dòng sông trên nhiều góc độ, nhiều phương diện mà nhìn trên phương diện nào cũng thấy thấy đẹp, thấy yêu. Ko tĩnh lặng soi bóng hàng tre mỗi trưa hè, cũng ko mang nét ưu tư trong từng khá thể lúc màn đêm buông xuống mà sông Đà hiện lên vô cùng sống động, dữ dội và mãnh liệt. Nó như được xem là “quân thù số một của con người”. Những con thác to dữ dội, những gạn nước từ Vạn Yên về xuôi thật mênh mang. Hai bờ sông dựng đá thành những vách hiểm trở khôn cùng. Nước và sóng xô chồng lên nhau như đang thi nhau phô bày tất cả vẻ dữ tợn, oai hùng của mình: “Sở hữu vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một mẫu yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Sở hữu quãng con nai con hổ đã mang lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Mặt sông lúc nhìn từ trên cao xuống là vô vàn những hút nước như những trụ bê tông. Dòng nước kêu lên thành những tiếng rùng rợn, lúc thì kêu lên như những mẫu giếng đang bị sặc nước, lúc lại ằng ặc như tiếng dầu sôi”. Tất cả dựng lên trước mắt ta thế hiểm trở và đầy rẫy những thách thức, nguy hiểm mà người nào đi qua cũng phải đối mặt. Sông với tư thế kiêu hùng và mang phần bạo ngược của mình sẵn sàng nhấn chìm bất kể người nào ko vững vàng vô lăng trước từng con con sông, ko làm chủ trên chiến trường chinh phục dòng sông. Bởi vậy mà nó làm cho bao con thuyền đi qua phải dè chừng, hoảng sợ, cố tránh né những cạm bẫy mà sông Đà sắp đặt sẵn: “Ko thuyền nào dám men sắp những mẫu hút nước đấy, thuyền nào cũng trèo nhanh để lướt quãng sông”, biết bao nhiêu bè gỗ đã phải chịu trận trước những hút sâu khổng lồ, biết bao nhiêu con thuyền nghênh ngác phải tan xác dưới lòng sông.

Vốn thông tỏ sâu sắc cùng sự trải nghiệm của mình Nguyễn Tuân tiêu dùng những ngôn từ mới lạ, lĩnh hoạt, độc đáo để miêu tả một dòng sông Đà. Sông Đà cũng mang dáng dấp đẹp đẽ, dịu dàng và thơ mộng, uyển chuyển như vẻ đẹp của người thiếu nữ chốn núi rừng Tây Bắc vậy. Sông Đà lúc này thật thơ và mộng mơ, tình yêu như đang tràn với bao xúc cảm nồng nàn khó tả: “Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình…cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Vẻ đẹp của dòng sông thật yên bình, khơi gợi sự yêu thương, đưa lòng người tới với những rung cảm trong tâm hồn mình, một sức quyến rũ tuyệt vời quá đỗi. Đôi lúc, sông Đà cũng mang những xúc cảm, cũng nhớ, cũng thương như bao người vậy. Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông còn được thể hiện giữa thiên nhiên, mây trời tạo nên nét riêng biệt ko trộn lẫn, bởi vậy dù bất cứ lúc nào nó cũng làm cho người thưởng thức bị thu hút: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà”. Ko chỉ vậy, sông Đà còn làm cho người ta thích thú bởi sắc nước thay đổi theo mùa: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà ko xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ mẫu màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Bờ sông Đà cũng thật đẹp, thật ngọt ngào bởi hương vị của hoa, của bướm, của chuồn chuồn, của những bãi ngô non đầu mùa hay những cô giành vàng nõn búp. Đó đây những đàn hươu đang thong thả gặm những bãi cỏ non tơ ướt đẫm sương đêm, mọi vật như đang hòa mình trong nét tuyệt diệu của dòng sông, tô điểm nên một vẻ đẹp gọi mời làm cho lòng người thổn thức: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi ko chớp mắt mà như hỏi tôi bằng mẫu nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, mang phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Sông Đà như một “người cố tri” lại như một” người nghệ sĩ tài hoa”. Qua cách miêu tả thật độc đáo với những xúc cảm tình thực, sự trân trọng, nâng niu từ những điều bình dị, nhỏ nhặt, Nguyễn Tuân như khắc hoạ nên một bức tranh thủy mặc của sông Đà say đắm lòng người với vẻ tuyệt vời, thân yêu.

Cùng với hình tượng sông Đà cá tính, tới với tác phẩm ta còn cảm nhận được hình ảnh người lái đò tài hoa, nghệ sĩ, điêu luyện trên dòng sông. Người lái đò đấy ko phải là một chàng thanh niên trai tráng với thân hình vạm vỡ mà là một ông già đã sắp bảy mươi tuổi: “Trên dòng sông Đà ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái độ sáu chục lần”. Thấp những kinh nghiệm qua bao cuộc hành trình suốt mười năm làm việc đã giúp ông trở nên thuần thục, bản lĩnh và kiên trường tới tương tự: “Ông nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng đất tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”. Người lái đò như một thứ “vàng mười” đã qua thử lửa: Loại đầu bạc quắc thước đấy đặt trên một thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mùn”, con người ông là con người của chốn sông nước hùng vĩ, trên ngực ông là những “củ khoai nâu” in dấu những trận chiến vật vã với con sông Đà dữ dội, với tác giả nhịn nhường như đó là những tấm huy chương cao quý mình chứng cho sức lao động của con người trong công việc của mình. Đứng trước những đợt sóng kinh hoàng, những thạch trận nguy hiểm, ông ko hề sợ sệt mà trái lại càng bản lĩnh thích thú hơn: “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá… Và một mình một thuyền ông đã giao chiến như một vị dũng sĩ đầy tài tình. Trải qua ba thạch trận bằng dũng cảm, mưu trí cả mình, người lái đò đã thắng lợi , trở về với cảnh lao động và cuộc sống bình yên: “Thế là hết thác… Sông nước lại thành bình. Đêm đấy nhà đò đốt lửa trong hàng đá, nướng ống cơm lam…”.

Nguyễn Tuân đã mang tới cho nền văn học nước nhà một tuyệt bút vô cùng độc đáo, một phong cách nghệ thuật riêng biệt, uyên chưng, tài hoa. Khép lại những trang văn của tùy bút “Người lái đò sông Đà”, em vẫn ko nguôi xúc cảm lâng lâng trong tâm hồn mình, mang chăng, đó là những điều đẹp đẽ nhất mà văn học đã mang lại, khơi gợi trong lòng mình những xúc cảm thẩm mỹ vô cùng to. Thật cảm ơn Nguyễn Tuân, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm mẫu đẹp để nâng niu những trị giá vững bền của đời sống lao động và của dân tộc.

Bài phân tích mẫu số 9 Người Lái Đò Sông Đà

Nói tới Nguyễn Tuân là người ta nghĩ ngay tới một nhà văn suốt đời đi tìm mẫu đẹp. Loại đẹp trong những tác phẩm của ông phải là mẫu đẹp đạt tới độ hoàn thiện, hoàn mỹ. Sự nghiệp cầm bút của Nguyễn Tuân đạt được rất nhiều thành tựu kể cả trước và sau cách mệnh. “Người lái đò sông Đà” trích từ tập tùy bút “Sông Đà” là một trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau cách mệnh tháng Tám.

Tác phẩm là kết quả của chuyến đi Tây Bắc của Nguyễn Tuân để tìm kiếm “chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc” và “chất vàng mười đã qua thử lửa” của con người nơi đây.

Ngay ở những câu văn trước tiên, Nguyễn Tuân đã thể hiện rất rõ sự hung bạo của sông Đà. Dòng sông ko trôi giữa đôi bờ “cát trắng phẳng lì” thơ mộng mà bờ sông “dựng vách thành”, cao vút, dựng đứng. Quãng sông thì hẹp tới nỗi “con nai, con hổ mang lần vọt từ bờ sông này sang bờ kia”. “Mặt sông chỗ đấy chỉ đúng ngọ mới mang mặt trời”, “đang mùa hè đi đò qua quãng đấy cũng cảm thấy lạnh”, mẫu lạnh của từng lớp da thịt, của sự sợ hãi trước thiên nhiên nơi đây. Lúc đi qua quãng này, người ta cảm tưởng như mình “đang đứng ở một mẫu ngõ nào mà ngóng vọng lên mẫu cửa sổ trên mẫu tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn khí”. Bằng một loạt hình ảnh miêu tả, Nguyễn Tuân đã đẩy người đọc từ xã xá thành phố về khuông cảnh hoang vu tới đáng sợ của thiên nhiên sông nước. Người ta thấy hiện ra trước mắt là một khúc sông Đà vừa sâu, vừa hẹp, vừa tối, vừa lạnh đủ để bất kỳ người nào tới đây cũng phải rùng mình sợ hãi.

Đi qua bảy mươi ba mẫu ghềnh, mang thể kể tên tới năm mươi mẫu ghềnh nhưng sợ hãi nhất là ghềnh Hát Loóng “dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…”. Kết cấu trùng điệp, nhịp văn nhanh mạnh làm cho người đọc ko khỏi hãi hùng trước những âm thanh của sóng, gió, nước, đá. Những từ láy “cuồn cuộn”, “gùn ghè” vừa hợi âm thanh rùng rợn vừa gợi những hình ảnh kinh khủng của nơi đây. Sông Đà được miêu tả như những kẻ sẵn sàng “đòi nợ xuýt” những người trên sông. Nó mang thể gây ra rất nhiều nguy hiểm mà con người ko thể nào lường trước được.

Nhiêu đó vẫn chưa kể hết những sự đáng sợ của sông Đà. Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt thủ pháp nghệ thuật khác nhau để lột tả hết mẫu vẻ hung bạo của hút nước sông Đà. Nhìn từ xa những mẫu xoáy nước trên sông giống như mẫu lúm đồng tiền trên má cô gái nhưng nó lại ko hề duyên dáng, dễ thương, thay vào đó nó mang thể lôi tuột một mẫu thuyền xuống đáy sông và đánh cho tan xác. Ko chỉ vậy, Nguyễn Tuân còn so sánh những mẫu hút nước với những mẫu giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Hình ảnh so sánh này vừa gợi độ sâu tun hút của những mẫu xoáy nước vừa làm cho người đọc khiếp sợ lúc hình dung ra nó. Càng sợ hãi hơn lúc đọc những câu văn miêu tả âm thanh của những mẫu hút nước. “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống mẫu bị sặc”. Nước ko chỉ dồn về nhiều và nhanh mà còn ặc ặc lên như mới rót dầu sôi vào. Từ láy “ặc ặc” gợi cảm giác sông Đà giống như một loài thuỷ quái bị bóp chặt yết hầu đang quằn quại giãy giụa. Sự hung bạo này làm cho nhà văn liên tưởng tới hình ảnh một anh quay phim táo tợn nào đó mang máy quay ngồi trên thuyền thúng xuống tận mẫu hút sông Đà rồi từ đó lia ngược ống kính để ghi lại cảnh tượng ghê sợ: một mẫu giếng như xanh toàn bằng thuỷ tinh như sắp vỡ tan đổ ụp xuống cả người, cả máy quay phim. Con thuyền xoáy tít, những thước phim màu cũng quay tít. Ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Tuân làm cho người đọc cảm giác như đang được xem một bộ phim hành động quyến rũ nhưng cũng vô cùng đáng sợ.

Sự hung bạo của sông Đà còn được miêu tả qua những mẫu thác nước. Nhà văn hướng người đọc chú ý vào âm thanh của chúng và miêu tả tuần tự theo trình tự từ xa tới sắp. “Còn xa lắm mới tới mẫu thác” nhưng tâm địa và dung mạo thứ “quân thù số một của con người” đã dần hiện ra. Chúng vọng tới bằng âm thanh “réo sắp mãi lại réo to mãi lên”. Tiếng thác nghe như là “oán trách”, nghe như là “van xin”, “khiêu khích”, giọng gằn mà “chế nhạo”. Cách kết hợp khéo léo giữa so sánh và nhân hoá này đã làm cho sông Đà hiện lên với một tâm địa phức tạp. “Thế rồi nó rống lên”, âm thanh được phóng to hết cỡ giống như đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích man dại. Nguyễn Tuân còn so sánh tiếng thác sông Đà giống như tiếng của một nghìn con trâu mộng đang lồng lộn để phá tuông sự bủa vây của rừng lửa.

Và để tăng thêm sự hung tợn của sông Đà, Nguyễn Tuân còn hướng ngòi bút của mình vào miêu tả đá sông. Hình ảnh ẩn dụ “cả một chân trời đá” gợi cảm giác đá sông Đà nhiều vô kể. Những tảng Đá sông Đà đã được Nguyễn Tuân thổi hồn vào đó với từng tảng đá mặt hòn nào trông cũng “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó”. Rồi chúng còn vây thành một thạch trận giống như một trận đồ bát quái trên sông Đà.

Qua ngòi bút của Nguyễn Tuân, con sông hung bạo này chẳng khác gì quân thù số một của con người. Thế nhưng ngay sau đó, lúc sự hung bạo trôi qua, nó lại hiện lên với cả vẽ trữ tình, thơ mộng tới khó tin.

Từ trên phi cơ nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân”. Với việc so sánh sông Đà “như một áng tóc trữ tình”, nhà văn đã làm cho dòng sông hiện lên với mẫu vẻ kiều diễm của một người phụ nữ. Thông thường người ta sẽ thấy chữ “áng” hay được tiêu dùng để chỉ những tác phẩm nghệ thuật, vậy mà ở đây Nguyễn Tuân đã tiêu dùng để chỉ sông Đà. Sở hữu thể thấy trong suy nghĩ của tác giả, sông Đà giống như một tác phẩm nghệ thuật mà tạo hoá đã tạo ra.

Sông Đà ko chỉ đẹp ở dáng hình mà còn đẹp ở thuốc nước. Tác giả đã quan sát dòng sông ở những ko gian và thời kì khác nhau. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, vừa trong xanh vừa óng ánh. Thu sang nước sông chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa. Bằng việc miêu tả chi tiết, cụ thể cùng những so sánh độc đáo sông Đà hiện lên vừa đẹp, vừa phổ quát và qua đây ta cũng thấy được sự hiểu biết sâu rộng cũng như khả năng quan sát tinh tế của nhà văn.

Bờ bãi sông Đà thì mênh mang, trải dài “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”. Câu văn ngắt thành nhiều đoạn đã tạo nên nhịp văn líu tíu, mau lẹ. Rồi lúc nhìn từ trên thuyền xuống, sông Đà mang dáng vẻ “lặng tờ”, tĩnh lặng tuyệt đối. Sự tĩnh lặng của dòng sông ẩn chứa trong đó là một sức sống dạt dào. Nhà văn còn tiêu dùng những so sánh vô cùng gợi cảm lúc miêu tả dòng sông “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Nhà văn đã sử dụng những khái niệm trừu tượng để miêu tả vẻ đẹp cụ thể của sông Đà làm cho sông Đà hiện ra ko chỉ là dòng ko của ko gian mà còn là dòng sông của thời kì. Câu văn “thuyền tôi trôi trên sông Đà” đã gợi ra mẫu vẻ tĩnh lặng của sông Đà và sự thanh thoả trong tâm hồn con người. Giữa mẫu khuông cảnh thơ mộng đấy nhà văn nghe thấy một tiếng còi sương – tiếng còi xúp lê của một chuyến tàu đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu, đó là âm thanh của một cuộc sống hiện đại, đủ đầy.

Sở hữu thể thấy những câu văn miêu tả vẻ trữ tình, thơ mộng của sông Đà đã tạo nên một đoạn văn giàu chất thơ. Chất thơ ở cảnh sắc sông Đà, chất thơ của tâm hồn con người.

Bằng vốn hiểu biết sâu rộng cùng tài năng miêu tả sắc sảo của mình, Nguyễn Tuân đã đưa người đọc đi hết từ sợ hãi này tới bất thần khác lúc miêu tả hai vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của sông Đà.

Đọc “Người lái đò sông Đà” người ta càng hiểu hơn lý do vì sao mẫu đẹp trong văn của Nguyễn Tuân được gọi là mẫu đẹp đạt tới độ hoàn thiện, hoàn mỹ. Tác phẩm một lần nữa khẳng định tài năng bậc thầy của Nguyễn Tuân trong việc sử dụng ngôn từ vừa giúp người đọc thấy được tình yêu quê hương, quốc gia mà ông gửi gắm trong những tác phẩm của mình.

Article post on: nongdanmo.com

Recommended For You

About the Author: Bảo